NHÀ ĐẦU TƯ NÊN RÓT TIỀN VÀO ĐÂU KHI LẠM PHÁT TĂNG CAO?

Lạm phát tăng nóng, nhà đầu tư nên rót tiền vào đâu?

Từ khi thành lập thị trường chứng khoán tới nay, kinh tế Việt Nam đã trải qua 106 tháng có mức CPI so với cùng kỳ nhỏ hơn 4%, Vn-Index tăng trưởng trung bình tới 2,73%/tháng trong các tháng này, cao vượt trội so với mặt bằng chung…

Lạm phát đang trở thành tâm điểm của giới đầu tư toàn cầu sau khi Bộ Lao động Mỹ công bố chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 lên tới 5%, là mức cao nhất trong 13 năm qua và vượt mọi dự báo của giới chuyên gia. Bên cạnh đó, giá sản xuất tại Trung Quốc đã tăng với tốc độ nhanh nhất trong 12 năm do giá hàng hóa tăng cao, càng cho thấy áp lực lạm phát toàn cầu giữa bối cảnh các nhà hoạch định chính sách đang nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tại Việt Nam, lạm phát bình quân 5 tháng đầu năm thấp nhất 6 năm, CPI tháng 5/2021 chỉ tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2020, vẫn trong tầm kiểm soát.

Tuy nhiên, với nền kinh tế mở và chịu tác động nhiều từ giá hàng hóa thế giới như Việt Nam thì áp lực lạm phát giai đoạn tới vẫn hiện hữu. Việc chuẩn bị trước kịch bản xây dựng danh mục khi lạm phát tăng cao sẽ giúp nhà đầu tư chủ động ứng phó với các diễn biến bất thường của nền kinh tế.

LẠM PHÁT 4-8% VẪN PHÙ HỢP CHO ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Theo Chứng khoán Agriseco, lạm phát tăng chưa chắc làm giảm giá chứng khoán. Thống kê lịch sử cho thấy, tác động của lạm phát tới thị trường chứng khoán không đơn thuần là mối quan hệ nhân quả mà phụ thuộc vào mặt bằng lạm phát đặt trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế cũng như triển vọng duy trì mặt bằng lạm phát như thế nào.

Ngày 10/6 vừa qua, chứng khoán Mỹ vẫn tiếp tục tăng điểm và đóng cửa tại đỉnh mới, mặc dù số liệu lạm phát tăng cao nhất 13 năm và ngang với thời điểm trước khi xảy ra Đại suy thoái năm 2008. Thị trường tỏ ra không lo lắng khi lạm phát tăng cao mà chỉ đánh giá điều này chỉ là tạm thời giống như quan điểm của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

Tại Việt Nam, môi trường lạm phát vẫn rất thuận lợi cho chứng khoán, đang trong mức tối ưu để chứng khoán tăng trưởng. Theo thống kê của Agriseco Research, mức lạm phát dưới 4%/năm là tốt nhất cho thị trường chứng khoán. Cụ thể, kể từ khi thành lập thị trường chứng khoán tới nay, kinh tế Việt Nam đã trải qua 106 tháng có mức CPI so với cùng kỳ nhỏ hơn 4%, Vn-Index tăng trưởng trung bình tới 2,73%/tháng trong các tháng này, cao vượt trội so với mặt bằng chung.

Chỉ số Vn-Index và lạm phát Việt Nam.

Chỉ số Vn-Index và lạm phát Việt Nam.

Lạm phát có thể nhích lên, nhưng trong vùng 4 – 8% vẫn là môi trường phù hợp cho chứng khoán. Hiện có những lo ngại về giá xăng dầu và vật liệu xây dựng tăng cao, bên cạnh việc nhu cầu hồi phục khiến đẩy mặt bằng lạm phát lên tầm cao mới trong nửa cuối năm. Mặc dù vậy, Agriseco Research đánh giá lạm phát mặc dù có thể tăng, tuy nhiên trong trường hợp tăng vượt mục tiêu 4% của Chính Phủ thì tại vùng đệm 4%-8% vẫn là mức thuận lợi cho thị trường chứng khoán, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế Việt Nam vẫn đang trên đà tăng trưởng.

Thống kê lịch sử cho thấy VN-Index đã chứng kiến 77 tháng có mức lạm phát trong khoảng 4% tới 8%, tỷ suất trung bình VN-Index trong các tháng này vẫn đạt 2,0% là mức khả quan. Quan sát dự báo lạm phát Việt Nam giai đoạn 2021-2022 của các tổ chức lớn như ADB, IMF, WorldBank; hầu hết nhận định đều cho rằng lạm phát vẫn quanh ngưỡng 3 – 5%, điều này là động lực quan trọng để thị trường chứng khoán tiếp tục tăng trưởng trong 2 năm tới.

screen-shot-2021-06-15-at-10-32-43-pm

Dù vậy, sẽ rất nguy hiểm nếu lạm phát vượt quá 10%. Khi lạm phát tăng tốc vọt lên trên vùng 2 chữ số, chứng khoán thường lao dốc rất mạnh và thiệt hại lớn cho nhà đầu tư. Thống kê cho thấy VN-Index đã trải qua 37 tháng có mức lạm phát cao hơn 10%. Tỷ suất thị trường giai đoạn này sụt giảm tới 2,83%/tháng. Đặc biệt hơn có những tháng giảm khủng khiếp trên 20%/tháng như các tháng trong giai đoạn 2008-2009. Do hệ lụy của nới lỏng tiền tệ, tài khóa quá mức, lạm phát đã tăng vượt 10% từ cuối 2017 và tăng liên tục, tạo đỉnh giữa 2018 với mức gần 30%. VN-Index đã sụt tới 70% trong giai đoạn này.

Một ví dụ khác diễn ra vào năm 2011 khi lạm phát duy trì trong ngưỡng 12 – 23% suốt cả năm (chủ yếu do kích thích tài khóa không hiệu quả), chứng khoán đã sụt giảm gần như cả năm với mức sụt giảm lên tới 30% tính riêng trong năm 2011.

NHÀ ĐẦU TƯ NÊN RÓT TIỀN VÀO ĐÂU KHI LẠM PHÁT TĂNG CAO?

Suốt bề dầy lịch sử, kênh chứng khoán đã chứng tỏ vị thế là kênh đầu tư hàng đầu trong việc chống lại lạm phát. Thống kê của Agriseco Research từ năm 1970 tới nay tại thị trường Mỹ, giá chứng khoán tăng trung bình 7,13%/năm so với mức tăng 2,14%/năm của lạm phát.

Tại Việt Nam, VN-Index tăng trung bình tới 15,9%/năm; cao hơn áp đảo so với mức tăng 6,4%/năm của lạm phát. Theo đánh giá của FiinGroup, VN-Index hiện được định giá P/E ở mức 18,6x lợi nhuận trượt 4 quý gần nhất đến hết quý 1 năm 2021 và P/B ở mức 2,8x. Mặc dù VN-Index đang liên tục lập đỉnh nhưng xét trên chiều dài lịch sử 10 năm qua, đây là mức định giá vẫn chưa quá cao so với trung bình 1 lần độ lệch chuẩn của chỉ số định giá này.

Theo nghiên cứu của Bloomberg, khi lạm phát leo thang thì giá hàng hóa thường tăng mạnh, đặc biệt nhạy cảm như giá dầu, giá kim loại hoặc giá các mặt hàng nông nghiệp. Trong khi việc đầu tư chỉ số giá hàng hóa quốc tế chưa phù hợp trong bối cảnh hiện tại đối với đại đa số nhà đầu tư, thì việc đầu tư vào các doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh các mặt hàng kỳ vọng tăng giá trong môi trường lạm phát là hợp lý.

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Goldman Sachs về tương quan độ nhạy giữa điểm hòa vốn của cổ phiếu các ngành (so với chỉ số lạm phát) và hiệu quả lợi nhuận chỉ ra, các ngành “outperform” có thể đầu tư bao gồm: Năng lượng & Công nghiệp, Ngân hàng & Bảo hiểm, Nhu yếu phẩm.

Tỷ suất các lớp tài sản khi lạm phát tăng mạnh.

Tỷ suất các lớp tài sản khi lạm phát tăng mạnh.

Cụ thể, với nhóm dầu khí, Agriseco khuyến nghị cổ phiếu nhóm Dầu khí dựa trên: Nền kinh tế bước vào giai đoạn đầu phục hồi, khiến nhu cầu cũng hồi phục từ đáy và giá dầu, giá khí được dự báo bước vào chu kỳ siêu sóng. Trong thời kỳ lạm phát, các doanh nghiệp dầu khí đánh bại chỉ số lạm phát tới 71% và đem lại lợi nhuận hàng năm trung bình lên tới 9%. Cổ phiếu khuyến nghị gồm: PVS, BSR, PLX, GAS.

Với nhóm kim loại: Ngành Thép duy trì cơ hội ngắn và trung hạn dựa trên: Giá thép vẫn đang ở mặt bằng giá cao trong Quý 2 và Quý 3. Kể cả khi sóng giá thép đi qua nhu cầu thị trường vẫn ổn định với các dự án đầu tư công và xây dựng. Ngoài ra, giá hàng hóa tăng cũng mang tính lan tỏa, Kim loại Đồng, Hóa chất cũng là nhóm ngành có cầu hưởng lợi. Cổ phiếu hưởng lợi gồm HPG, DGC.

Với nhóm ngân hàng: Trong bối cảnh lạm phát cao, nhìn chung lãi suất đầu ra của các ngân hàng sẽ tăng trong khi lãi suất đầu vào sẽ tăng chậm hơn ở 1 số ngân hàng có tỷ lệ CASA cao như TCB, MBB, VCB giúp NIM ở các ngân hàng này mở rộng. Cùng với việc quy mô tín dụng không bị ảnh hưởng quá nhiều, trong môi trường lạm phát cao thì những ngân hàng kể trên được dự báo sẽ là những ngân hàng có lợi. Cổ phiếu nên quan tâm như TCB, VCB. MBB.

Nhóm Bảo hiểm: Với đặc điểm tài sản chủ yếu là tiền gửi và trái phiếu, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm có tương quan cao với lãi suất, nên trong môi trường lạm phát và lãi suất tăng, thu nhập của các doanh nghiệp bảo hiểm kỳ vọng sẽ ghi nhận tích cực. Cổ phiếu: BVH, PVI, BMI được đánh giá cao.

Cuối cùng, nhóm ngành Nông nghiệp, Thực phẩm: Với đặc thù là ngành nhu yếu phẩm, an toàn và thường có thêm lợi nhuận từ cổ tức cao – cũng là nhóm ngành nên đầu tư trong giai đoạn lạm phát. Chi phí đầu vào của doanh nghiệp các ngành này (chủ yếu là nhân công) thường tăng chậm hơn giá đầu ra, vì thế biên lợi nhuận của ngành này sẽ được tăng đáng kể. Agriseco Research cũng lựa chọn các doanh nghiệp sở hữu chuỗi chu trình sản xuất khép kín, giúp kiểm soát tốt hơn nữa về mặt chi phí. Cổ phiếu: LTG, VHC, ANV

LẠM PHÁT CÓ ẢNH HƯỚNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN MỘT NHÀ ĐẦU TƯ?

Trong đầu tư hai chữ “Lạm Phát” là một yếu tố được rất nhiều người quan tâm bởi nó ảnh hướng đến rất nhiều những kết quả dự đoán trong tương lại của mỗi nhà đầu tư. Đối với những mục tiêu tài chính dài hạn như việc nghỉ hưu hay để dành tiền cho những mục tiêu sau này, lạm phát có thể phá hỏng mọi thứ. Tiền của bạn sẽ ngày càng mất giá với thực tế trong tương lai. Đối với nhiều người thì việc đầu tư tiền vào chứng khoán, cổ phiếu là cách tốt nhất để theo kịp lạm phát. Vì cổ phiế có thể tăng hoặc giảm giá trị bất cứ lúc nào, chúng là những khoản đầu tư nguy hiểm nhưng cũng mang lại tiềm năng lợi nhuận cao nhất và luôn vượt qua được lạm phát.Trong một nền kinh tế, khi xảy ra lạm phát thì làm cho khu vực đó có một cuộc sống rất khó khăn, và điển hình cho sự lạm phát là đất nước Venezuela, tại đó đang bị siêu lạm phát lên tới 1.000.000%, và khi mua một đồ dùng cơ bản như bánh mì, kem đánh răng thì phải mang cả bao tải tiền đi mới đủ đề mua chúng.

Điều đó có thể thấy lạm phát là một vấn đề nan giải đối với nền kinh tế nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng không phải cũng hiểu lạm phát là gì? Cách tính lạm phát như thế nào? Nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát? Những tác động của lạm phát đối với kinh tế và cách khắc phục chúng như nào. Tất cả những kiến thức đó sẽ được chia sẻ dưới đây.

1. Lạm phát tiền tệ là gì?

Lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác. Phạm vi ảnh hưởng là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.

Lạm phát có 3 mức độ:

Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%

Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%

Siêu lạm phát: trên 1000%

Trên thực tế, các quốc gia chỉ kỳ vọng lạm phát chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống là con số lý tưởng.

2. Một số khái niệm khác về lạm phát

Thuật ngữ lạm phát ban đầu được sử dụng để chỉ sự gia tăng số lượng tiền trong lưu thông, và hiện nay một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này. Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế hiện nay đều sử dụng thuật ngữ lạm phát để chỉ một sự gia tăng trong mức giá. Sự gia tăng cung tiền có thể được gọi là lạm phát tiền tệ, để phân biệt với sự tăng giá cả, mà cũng có thể được gọi cho rõ ràng là lạm phát giá cả.

Các khái niệm kinh tế khác liên quan đến lạm phát bao gồm:

  • Giảm phát: Là sự sụt giảm trong mức giá chung.
  • Thiểu phát: Là làm giảm tỷ lệ lạm phát.
  • Siêu lạm phát: Là một vòng xoáy lạm phát ngoài tầm kiểm soát.
  • Tình trạng lạm phát: Là một sự kết hợp của lạm phát, tăng trưởng kinh tế chậm và thất nghiệp cao.
  • Tái lạm phát:  Là một sự nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát.

3. Nguyên nhân gây ra lạm phát là gì?

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó “lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy được coi là hai nguyê nhân chính. Cân đối thu chi là việc làm cần thiết để tránh khỏi lạm phát khi xảy ra. Chi tiết các nguyên nhân:

3.1 Lạm phát do cầu kéo

Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó mà leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là lạm phát do cầu kéo. VD: Như giá xăng tăng lên, kéo theo rất nhiều sản phẩm khác tăng theo như giá cước Taxi, giá hoa quả…

3.2 Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và như thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng.

3.3 Lạm phát do cơ cấu

Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công danh nghĩa cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, các doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát.

3.4 Lạm phát do cầu thay đổi

Khi thị trường đang giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, sẽ dẫn đến lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Và nếu thị trường có người cung cấp độc quyền về giá cả có tính chất cứng nhắc, chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam, thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

3.5 Lạm phát do xuất khẩu

Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm sẽ khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.

3.6 Lạm phát do nhập khẩu

Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

3.7 Lạm phát tiền tệ

Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.

Leave a Reply